GIÁ VÀNG TRONG NƯỚC
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
ĐƠN VỊ VND-VIETNAM
thanhngoc121087
Hotline: 0913.506.385
thanhngoc121087
xinhxinhvietnam
PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP, LÀNG NGHỀ VEN BIỂN NGHỆ AN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Xuất khẩu lao động - Chế biến hải sản nước mắm Cửa Hội- Sửa chữa đóng mới tàu thuyền-Nhà hàng tiệc cưới
>> TIN TỨC - SỰ KIỆN
Bản in Lần xem: 6742

Phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ven biển Nghệ An - thực trạng và giải pháp
Ngày đăng:2/1/2010

Nghệ An là một trong 28 tỉnh của cả nước có bờ biển với chiều dài 82km, có cảng Cửa Lò tàu 1 vạn tấn vào ra thuận lợi. Ngoài tiềm năng về nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản, phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch..., vùng ven biển Nghệ An còn có tiềm năng để phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và làng nghề. Trên thực tế, ngành nghề TTCN, làng nghề ven biển Nghệ An tuy đã được chú trọng phát triển nhưng tốc độ còn chậm, hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Vì thế, việc nhìn nhận một cách khách quan thực trạng, qua đó nghiên cứu đề xuất những giải pháp cơ bản để khắc phục tình trạng này có ý nghĩa quan trọng.

 

I. Thực trạng phát triển TTCN, làng nghề ven biển Nghệ An

1. Kết quả đạt được

Từ khi có Nghị quyết số 06/NQ.TU ngày 8/8/2001 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển công nghiệp, TTCN và xây dựng làng nghề đến nay, sản xuất TTCN, làng nghề cả tỉnh nói chung, vùng ven biển nói riêng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

1.1. Đối với sản xuất TTCN 

- Nhiều nghề truyền thống được khôi phục và phát triển bền vững: Nghề chế biến nước mắm: từ 12 triệu lít năm 2001 đến nay ước tính đạt khoảng 17 triệu lít và dự kiến đạt 18 triệu lít năm 2010, giải quyết việc làm cho gần 2.000 lao động; Nghề đóng mới và sữa chữa tàu thuyền: Trung Kiên - Nghi Thiết (Nghi Lộc), Phú Nghĩa - Quỳnh Nghĩa, Thọ Thành - Quỳnh Thọ (Quỳnh Lưu), HTX sản xuất và dịch vụ Sông Lam (Nghi Hải) đã giải quyết việc làm cho gần 1.500 lao động (riêng HTX Trung Kiên giải quyết được gần 700 lao động). Ngoài ra, còn một số nghề truyền thống khác như sản xuất kẹo lạc ở Diễn Vạn, sản xuất trống ở Diễn Hoàng (Diễn Châu), dịch vụ đan vá lưới ở hầu hết các xã có làm nghề đánh bắt trên biển, nghề trồng dâu nuôi tằm ở Diễn Kim - Diễn Châu.

- Nhiều nghề mới được du nhập, giải quyết việc làm và thu nhập cho hàng ngàn lao động (chủ yếu là lao động nữ) ở vùng ven biển như: Nghề mây tre đan (là nghề truyền thống ở Nghi Phong, Nghi Thái (Nghi Lộc) nhưng lại là nghề mới ở nhiều địa phương khác trong đó có các xã vùng biển) đến nay đã thu hút gần 1.000 lao động, mức thu nhập bình quân gần 600.000 đồng/người/tháng; Nghề móc sợi là nghề mới được du nhập vào tỉnh ta từ năm 2002, đến nay đã có 3 làng nghề ở Quỳnh Lưu với gần 1.000 lao động nữ, thu nhập bình quân gần 700.000 đồng/người/tháng, cá biệt có hộ thu nhập 2-2,5 triệu đồng/tháng.

1.2. Đối với phong trào xây dựng làng nghề 

Làng nghề phát triển sẽ giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động vùng biển nói riêng, góp phần giữ gìn và phát triển văn hoá truyền thống, đặc biệt đẩy nhanh quá trình đô thị hoá cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên chính quê hương mình. Ngoài ra, làng nghề còn có ý nghĩa nhân văn, đó là sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận.

Đến nay, Nghệ An đã phát triển mới được 65 làng nghề, giải quyết việc làm thường xuyên và không thường xuyên cho 17.500 lao động, tạo ra giá trị sản xuất hàng năm trên 350 tỷ đồng, chiếm 20% giá trị TTCN cả tỉnh. Trong đó, các xã ven biển có 14 làng nghề (bình quân 2 xã có 1 làng nghề), cơ cấu như sau: làng nghề chế biến nước mắm: 5 làng (36%), làng nghề đóng mới; sữa chữa tàu thuyền: 3 làng (21,5%); làng nghề mây tre đan xuất khẩu: 2 làng (14%); làng nghề móc sợi:  3 làng (21,5%); làng nghề ươm tơ dệt đũi: 1 làng (7%). Nếu phân theo địa bàn thì ở Quỳnh Lưu có 8 làng, Diễn Châu 4 làng, Nghi Lộc 1 làng và Cửa Lò 1 làng.

2. Một số tồn tại            

- Làng nghề tuy đã đạt 20% giá trị sản xuất TTCN trên địa bàn nhưng phát triển thiếu bền vững, khả năng cạnh tranh hội nhập yếu. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực là mây tre đan vẫn phụ thuộc vào khâu tiêu thụ nên còn bị động, giá trị thu nhập không cao, nguồn cung cấp nguyên liệu thiếu ổn định.

- Các sản phẩm truyền thống như chế biến hải sản, đóng mới tàu thuyền, sản xuất trống ở Diễn Hoàng, sản xuất kẹo lạc ở Diễn Vạn (Diễn Châu) đã ra đời hàng trăm năm (làng nghề Trung Kiên đã có lịch sử 630 năm)... nhưng việc tạo dựng được thương hiệu còn hạn chế. Sản phẩm mới du nhập còn quá ít (chỉ 2 loại là đan móc sợi xuất khẩu và sản xuất hàng mỹ nghệ) và vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thị trường đầu ra, phát triển thiếu tính bền vững.

- Số lượng làng nghề, làng có nghề vùng ven biển còn quá ít so với cả tỉnh, thu nhập của người lao động còn thấp.

Bảng so sánh các làng nghề ven biển với cả tỉnh

TT

Chỉ tiêu

ĐV tính

Cả tỉnh

Các xã ven biển

Tỷ lệ

1

Tổng số làng nghề

Làng

65

14

21,5 %

2

Lao động làm nghề

Người

17.640

4.649

26,35 %

3

Giá trị sản xuất

Tr đồng

352.620

98.994

28,07 %

4

Thu nhập:

- Cả làng

- Bình quân lao động

 

Tr. đồng

Tr. đồng

 

134.166

10,7

 

44.178

10,8

 

32,92 %

100,9 %

* Nguyên nhân tồn tại:

- Nhận thức của người lao động về vai trò vị trí của sản xuất TTCN và xây dựng làng nghề chưa đầy đủ, tư tưởng trông chờ ỷ lại Nhà nước còn nặng nề, chưa chủ động sáng tạo tìm tòi để vươn lên trong cơ chế thị trường.

- Trình độ tay nghề của người lao động còn nhiều hạn chế, trình độ quản lý của Ban quản trị trong các HTX (kể cả các HTX nông nghiệp) hầu hết chưa được đào tạo cơ bản.

- Các doanh nghiệp, HTX chuyên sản xuất TTCN nói chung, các doanh nghiệp, HTX làm “bà đỡ” cho làng nghề nói riêng ở vùng ven biển còn ít về số lượng và quy mô, năng lực và trình độ còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của TTCN, làng nghề.

- Cấp uỷ, chính quyền của một số địa phương chưa vào cuộc, chưa quan tâm đúng mức đến việc lãnh đạo, chỉ đạo phát triển TTCN, làng nghề.

II. Giải pháp phát triển TTCN, làng nghề ven biển Nghệ An đến năm 2020

Để xây dựng vùng biển và ven biển Nghệ An thành khu vực phát triển nhanh, năng động góp phần thúc đẩy kinh tế Nghệ An đi lên, cần tập trung phát triển TTCN, xây dựng các làng nghề, phấn đấu đến năm 2020, mỗi làng của các xã ven biển có ít nhất 1 nghề, trong đó 40-50% số làng có nghề được công nhận làng nghề. Các làng nghề cần tập trung đầu tư phát triển như: chế biến thuỷ hải sản, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, mây tre đan xuất khẩu, cơ khí, dịch vụ đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản...

Những giải pháp chủ yếu:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền, chủ trương chính sách về phát triển TTCN, làng nghề, gắn với công tác tuyên truyền giáo dục trong nhân dân vùng biển về nhận thức vai trò, vị trí của việc phát triển TTCN, xây dựng làng nghề trên địa bàn. Các địa phương cần kiện toàn củng cố hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển TTCN, làng nghề.

2. Rà soát bổ sung quy hoạch phát triển TTCN, làng nghề gắn với quy hoạch xây dựng các khu sản xuất làng nghề tập trung theo hướng quy hoạch chi tiết làng có nghề, làng nghề của cả tỉnh nói chung và các xã ven biển nói riêng. Trong công tác quy hoạch, lưu ý tập trung vào các nghề mũi nhọn cần ưu tiên như: chế biến thuỷ hải sản, mây tre đan xuất khẩu, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, thủ công mỹ nghệ; Chú trọng phát triển các nghề truyền thống như: chế biến hải sản, đóng mới tàu thuyền, chế biến nông sản, sản xuất trống, cơ khí sửa chữa…, đồng thời khuyến khích mở rộng các nghề mới như: thêu ren móc sợi, thủ công mỹ nghệ…; Tăng cường và tích cực đổi mới công tác chỉ đạo xây dựng và phát triển TTCN, làng nghề ở các cấp huyện, xã.

3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực:

- Ổn định duy trì mạng lưới đào tạo các ngành nghề TTCN theo cấp độ và hình thức đã được xây dựng và đúc kết từ năm 2001 (Theo Nghị quyết số 07/NQ.TU ngày 8/8/2001 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (khoá XV) về công tác đào tạo nghề giai đoạn 2001-2010) ; Tiếp tục tổ chức dạy nghề theo hai hình thức: đào tạo tập trung tại các cơ sở dạy nghề chuyên nghiệp và đào tạo tại cơ sở (làng nghề, doanh nghiệp, HTX…), trong đó tập trung các nhóm nghề đang có khả năng tiêu thụ như mây tre đan xuất khẩu, chế biến hải sản, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, chế biến nông sản.

- Cùng với việc nâng cao chất lượng các trung tâm dạy nghề TTCN hiện có như: Trung tâm dạy nghề huyện, vùng, Trung tâm dạy nghề TTCN Đồng Tâm (TP Vinh), Trung tâm dạy nghề Sông Lam (Cửa Hội), Trung tâm dạy nghề Bình Minh (Quỳnh Lưu), cần khuyến khích thành lập thêm nhiều trung tâm dạy nghề TTCN dân lập để đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng dạy nghề cho nông dân vùng biển.

- Chủ trương đào tạo nâng cao dân trí cho người dân gắn với thay đổi tập quán lạc hậu của một bộ phận dân cư vùng ven biển bãi Ngang.

4. Giải pháp phát triển KH-CN: Các HTX, doanh nghiệp, làng nghề sản xuất kinh doanh lĩnh vực TTCN cần tích cực đổi mới thiết bị, ứng dụng KH-CN vào sản xuất để nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã, quan tâm xây dựng thương hiệu sản phẩm như: nước mắm, tàu thuyền, chế biến hải sản khác (như cá, mực), mây tre đan xuất khẩu; Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp tư vấn xây dựng thương hiệu để giúp các doanh nghiệp, HTX, làng nghề xây dựng thương hiệu sản phẩm.

5. Giải pháp về xây dựng doanh nghiệp làm "bà đỡ" cho phát triển sản xuất TTCN, làng nghề: Kinh nghiệm thực tế cho thấy, sản xuất TTCN và làng nghề muốn tồn tại và phát triển bền vững (đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu) thì cần phải có một đơn vị (doanh nghiệp hoặc HTX) đủ mạnh để làm vai trò hỗ trợ đầu vào và đầu ra. Trên thực tế, số lượng bà đỡ” ở Nghệ An nói chung và vùng ven biển nói riêng đang còn rất ít: mới chỉ có 43% làng nghề có đơn vị làm bà đỡ, còn lại 57% số làng nghề tự bươn chải để tồn tại và phát triển. Do vậy, tỉnh cần có chính sách khuyến khích nâng đỡ (chính sách ưu tiên đặc biệt) để hình thành phát triển loại hình doanh nghiệp này.

6. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm TTCN, làng nghề. Hàng năm, các ngành, các huyện phối hợp vối Sở Công thương, Liên minh HTX tổ chức bình xét, suy tôn các sản phẩm TTCN, làng nghề, tổ chức Hội chợ làng nghề TTCN và các hoạt động xúc tiến thương mại khác.

7. Giải pháp về nguyên liệu: Sản xuất muốn tồn tại và phát triển bền vững ngoài các yếu tố khác thì việc chủ động nguồn nguyên liệu hết sức quan trọng. Về phía tỉnh: Cần làm tốt công tác quy hoạch nguồn nguyên liệu đi đối với chính sách nuôi trồng, khai thác, bảo vệ nguồn nguyên liệu như: song, mây, lùng, tre nứa… Về phía các địa phương: Qua khảo sát một số xã vùng ven biển có khả năng trồng cây mây rất tốt như Diễn Hoàng, Diễn Hùng, Diễn Hải (Diễn Châu), Quỳnh Thọ, Quỳnh Thuận (Quỳnh Lưu)…, UBND tỉnh đã có QĐ số 19/2009/QĐ.UB ngày 4/2/2009 về việc ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn và thuỷ sản giai đoạn 2009-2010 trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Đề nghị các địa phương quan tâm xây dựng chiến lược nguyên liệu cho làng nghề mây tre đan xuất khẩu trên địa bàn.

8. Tỉnh cần có chính sách tạo việc làm thông qua chương trình khuyến công, chương trình xoá đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn vùng biển, hệ thống đường giao thông, khu làng nghề tập trung (cụm công nghiệp nhỏ), các cảng cá…/.


Các tin khác Tin tức - Sự kiện :
  • Thiet ke website o tai Nghe An (2/1/2010)
  • www.diachidoanhnghiep.com - Ngôi nhà chung của các doanh nghiệp (2/1/2010)
  • Thiết kế phần mềm Logo, đồ họa, flash TP Vinh Thành phố Vinh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa (2/1/2010)
  • Đóng điện đường dây 220 kV Bản Lả - Vinh (2/1/2010)
  • Đăng ký niêm yết chứng khoán mất phí 10 triệu đồng (2/1/2010)
  • Doanh nghiệp lo ứng phó giá điện tăng (2/1/2010)
  • Phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ven biển Nghệ An - thực trạng và giải pháp (2/1/2010)
  • Đón nhận Huân chương lao động Hạng nhì (2/1/2010)
  • Đa dạng hóa ngành nghề để phát triển bền vững! (2/1/2010)
  • Xí nghiệp sản xuất và dịch vụ Sông Lam đón nhận Huân chương lao động Hạng nhì (2/1/2010)
  • GIỚI THIỆU CHUNG
    Thư ngỏ Giám đốc
    Kinh tế xã hội ngày càng phát triển cao, đời sống vật chất tinh thần ngày càng được cải thiện, con người ngày càng quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, thái độ phục vụ và các dịch vụ sau bán hàng
    QUẢNG CÁO
    Đóng mới, sửa chữa tàu thuyền Danh ba doanh nghiep Viet Nam Thiet ke website Nghe An Ha Tinh
    Hôm nay: 16
    Tất cả: 221307
     
    Xí nghiệp sản xuất và dịch vụ Sông Lam
    Địa chỉ: Khối Hải Triều - Phường Nghi Hải - TX.Cửa Lò - Nghệ An
    Điện thoại: 038.829158 - Fax: 038.829195 - Email: dangminhson32@yahoo.com
    Hotline: 0913.506.385 - Thiết kế bởi Sara Hitech